Những câu chuyện ngày xưa, rồi cả chuyện ngày nay được dịp rôm rả bên mâm mỳ Quảng. Với tôi, về nhà sau mỗi lần rong ruổi trên hành trình mưu sinh, thấy ba má còn khỏe mạnh, cả nhà quây quần đầy đủ bên mâm mỳ Quảng là tôi lại yên lòng.

Chiếc xe khách thắng lại kêu “kin kít”, bụi đất bay lên mịt mù. Tôi ôm mớ hành lý lỉnh kỉnh, vừa bước xuống xe là đã thấy ba má đứng đợi ở đầu ngõ, má mừng mừng tủi tủi: “Đi xe có mệt lắm không con? Chừ ưng ăn chi má nấu? Hay là làm bữa mỳ Quảng ăn hỉ? Mấy tháng rồi không về nhà, má biết bây thèm mỳ lắm!”. Má lật đật chạy xe ra chợ, mua cân mỳ, ít tôm sông, thịt heo, trứng cút, vài đồng rau sống về làm bữa mỳ Quảng “chiêu đãi” cả nhà.

 

Gặp má ngoài chợ, dì Bảy hỏi: “Bữa nay nhà có khách hay răng mà chị Ba mua nhiều mỳ ghê rứa?”. Má khoe: “Thằng cu đi làm trong Sài Gòn về, nấu cho ổng bữa mỳ chứ ổng la thèm quá trời”. Dì Bảy lại chọc má: “Chị Ba bữa nay sướng hè, có “cục vàng” về thăm, hết thút thít than nhớ con rồi hỉ. Mà chị Ba mua dầu phộng chưa, rồi có củ nén để khử dầu làm nhưn chưa? Thiếu mấy cái đó là không có được đâu nghe”. Má cười cười: “Tôi mua đầy đủ hết rồi. Thôi tôi về trước lo cơm nước nghe dì Bảy, bữa mô rảnh ghé nhà tôi chơi nghe”. Má bỏ lửng cuộc trò chuyện, vội vã về nhà, nhóm lửa, nấu nhưn mỳ.

Tôi tranh thủ ra giếng tắm cái ào, tiện thể cho giàn thiên lý uống mấy ca nước. Từng dòng nước mát lạnh chảy ào ào lên người, bụi bặm trôi sạch, tôi như nhẹ hẳn ra. Với tay lấy con dao, tôi vun vút vài nhát là đã có ngay cái búp chuối cho má làm rau sống.

Khói tỏa ra từ gian bếp nhỏ, từng sợi khói cay xè quyện vào nắng chiều rồi tan vào không trung. Má hết loay hoay trong bếp với củi lửa lại chạy ra sau hè ngồi cắt búp chuối. Con dao trên tay má thoăn thoắt, lưỡi dao đi tới đâu là từng khoanh chuối tròn xinh rơi xuống chậu nước má đã chuẩn bị sẵn, trong chậu nước ấy má không quên vắt vào một lát chanh tươi cho búp chuối được trắng.

Anh em tôi chia nhau bóc vỏ mấy hạt đậu phộng má vừa rang, đậu còn nóng hổi, tỏa mùi thơm lừng. Chốc chốc, tôi lại lén cho vào mồm mấy hạt, nhai rôm rốp. Má liếc mắt sang nhìn tôi, cười cười: “Ăn ít thôi, để xíu còn có mà ăn mỳ”.

Đúng 7 giờ tối, khi nhạc hiệu của chương trình thời sự bắt đầu vang lên cũng là lúc nhà tôi quây quần bên bữa mỳ thịnh soạn của má. Bịch mỳ còn nguyên trong bao nilong; một nồi nước nhưn óng ánh màu vàng, mùi thơm của dầu phộng khử với củ nén cứ thoang thoảng, tỏa ra khắp nhà; một rổ rau sống xanh ngát; một chén mắm tỏi ớt sền sệt; vài cái bánh tráng nướng giòn rụm; một chén đậu phộng rang nho nhỏ đặt ở chính giữa.

Thấy thiếu thiếu, má sai thằng Út chạy lẹ ra sau vườn hái mấy trái ớt xanh vô ăn kèm. Trái ớt cắn dở, vứt sau hè, chẳng chăm bẳm gì nhiều mà cũng lớn nhanh, trái ra quanh năm. Mỗi khi kho cá, nấu canh, làm nước mắm… mà cần ớt thì chỉ cần chạy ra sau hè là có ngay. Nhà hàng xóm có lỡ hết ớt thì chỉ cần với tay qua hàng rào hái, cũng chẳng cần xin xỏ gì cho khách sáo, hàng xóm với nhau chẳng ai “câu nệ” gì mấy trái ớt.

 

Ớt ăn mỳ phải là loại ớt xanh thì mới đúng chuẩn, tuy không cay xé lưỡi như ớt hiểm nhưng lại có mùi thơm nồng, ăn có độ giòn. Chẳng cần cắt lát mỏng cho cầu kỳ, người Quảng một tay bưng tô mỳ, tay còn lại thì cầm đũa và kẹp theo trái ớt còn nguyên cả cuống. Cho một đũa mỳ vào miệng, ngay lập tức trái ớt cũng được cắn một cái “bụp”, mùi thơm nồng , vị cay dịu lan tỏa khắp miệng. Vị giác, thính giác và khứu giác được kích thích, trái ớt xanh không chỉ làm cho tô mỳ Quảng ngon hơn mà còn làm cho “cảm xúc” của người ăn cũng được “thăng hoa”.

Mỗi khi cả nhà quây quần bên mâm mỳ Quảng thì ba má hay nhắc chuyện ngày xưa: “Bà cố bây hồi xưa nấu nhưn mỳ là ngon nhứt xứ. Bà nội bây với má cũng học cách nấu nhưn mỳ của bà cố nhưng rồi cũng không ai nấu ngon được như cố”. Ba hay kể: “Nhớ hồi xưa, cái thời mà còn nghèo khó, cơm còn không có ăn, cứ mong trong nhà có cái đám giỗ để được ăn tô mỳ cho đỡ thèm. Hồi còn trẻ như bây là ba ăn nhiều lắm. Ăn ba, bốn tô mỳ mà không xi-nhê”…

Thế Giới TIếp Thị