Tình cờ, nhìn những bức ký hoạ của sinh viên hai khoá đầu tiên trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương, vẽ vào những năm 1925-26, ghi lại hình ảnh của những người bán hàng rong, hàng quà, ngồi trước những gánh hàng, hay lướt đi vội vã trên đường phố Hà Nội xưa, tôi nhớ lại cả mộtđời thơ ấu đã lắng sâu trong ký ức.

> NemNgon giao tại nhà miễn phí

> Đậu Mơ - Phần 1: Món ngon dân dã đất Hà Thành

> 5 quán nem cuốn ngon tuyệt tại Hà Nội

> 5 quán nộm ngon đệ nhất Hà Thành

Âu cũng là một dịp để hồi tưởng lại những tiếng rao, tiếng động phố phường, mới ngày nào còn gần gũi... Tiếng động của xe cộ lúc sớm mai trên đường phố, tiếng rao quà trong trưa nắng, tiếng hát của người xẩm loà lúc phố xá lên đèn... tất cả những âm thanh đó, những hình ảnh đó, đã ghi khắc vào tâm hồn tôi.

Ôi, những hàng quà xưa! Bây giờ nhớ lại, cũng như thể nhớ lại tuổi thơ của mình, nhớ lại một cái gì đẹp lắm, đã mất đi và có lẽ không bao giờ trở lại nữa!

Ở Hà Nội ngày xưa, nhất là ở các phố buôn bán trong khu phố cổ, người ta có thói quen ăn quà từ sáng đến tối. Lúc nào cũng có hàng quà ! Bọn trẻ chúng tôi - và ngay cả người lớn - chỉ biết thưởng thức các món quà đó một cách ngon lành, và vô tư, còn tìm hiểu tại sao lại có cái truyền thống "ăn quà" ấy, tại sao Hà Nội lại có những món ăn ngon ấy, thì dường như chẳng ai nghĩ tới!


Ảnh: Internet

Ngay cả khi lớn khôn lên, nghĩ lại, tôi cũng vẫn thấy khó lý giải được các hiện tượng này, kể cả cái thị hiếu, nói chung, của người Hà Nội, từ sự thẩm định các món ăn, cho đến cách lựa chọn các hàng quà!

Người ta thường bảo người Hà Nội ăn uống "thanh cảnh, kén chọn". Hồi nhỏ, mẹ tôi nói thế, và tôi nghe cũng chỉ biết vậy, nhưng chắc hẳn điều đó phải có một phần đúng. Người ở đất đế đô cũ nào mà chẳng thế ? Thật ra, ăn uống "kiểu cách", "đài các" thực sự, thì có lẽ phải nói đến người Huế, nhất là trong các gia đình khá giả, quyền quí! Nhưng đấy là chỉ nói về cách ăn uống và các món ăn trong các bữa cơm thôi, còn quà thì có lẽ không đâu phong phú và "thanh lịch" như ở Hà Nội. Cùng món phở, cùng món bún chả đấy, mà đi xuống Hải Phòng, hay xuống Nam Định, thấy cũng đã khác rồi !

Sau này cái máu dân dã, vốn có sẵn ở trong người tôi, đã trỗi dậy không biết từ lúc nào, và khiến tôi lại nghĩ rằng, nếu cứ thả cửa ra thì người Hà Nội cũng thích ăn uống xô bồ, cũng ưa "nhậu nhẹt" như ai thôi! Bởi một lẽ đơn giản là người Hà Nội, ngay từ xưa vốn vẫn là dân tứ chiếng (tứ trấn: Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Đông, Sơn Nam), từ các vùng quê Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Đông, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Phủ Lý, Nam Định, Thái Bình, v.v… kéo nhau lên Kẻ Chợ làm ăn, rồi định cư ở đây. Có gia đình đã định cư từ lâu lắm rồi, song có lẽ ít ai gốc gác Kẻ Chợ quá năm, sáu đời nay ! Tuy nhiên, khi cái vòng lẩn quẩn khép lại, thì những gia đình vốn chỉ là dân buôn bán, gốc gác "tứ chiếng", từ nông thôn lên kia, lại muốn duy trì một thứ nề nếp nào đó - mà thật ra họ không có - như một kiểu " học làm sang ", một cách làm cho "phải đạo" mà thôi ! Họ cũng dạy con cái "ăn nói" sao cho dịu dàng, lễ độ, phép tắc, v.v... và cũng chính họ mới là những người quan tâm đến truyền thống ẩm thực nhất, và biết... ăn quà nhất ! Tầng lớp thương gia, tiểu thương, thủ công nghệ, vẫn luôn luôn đóng một vai trò tích cực trong đời sống đô thị. Còn những gia đình thật sự là cổ ở Hà Nội, thì trước hết là rất hiếm, sau nữa, là vì đã là nhà gia giáo, ông bà cha mẹ có chút ít Khổng học, thì giáo dục ở trong nhà cũng nghiêm khắc hơn, ăn uống cũng thanh đạm hơn, con cái có khi không được ra ngoài đường để ăn quà nữa !

Hà Nội luôn luôn có những cư dân mới đến nhập cư, từ trong Thanh, trong Nghệ, Quảng Nam, Quảng Ngãi , thậm chí có cả những người tập kết từ trong Nam ra rồi ở hẳn lại ngoài này. Đấy là chưa kể những đợt di dân ồ ạt từ nông thôn ra thành thị từ những năm 54-55 trở đi, đã du nhập đến đây nhiều tập quán lai tạp, xô bồ, từ trong cách ăn nói, cách phát âm, cho đến phong cách ăn, mặc. Bây giờ "lời ăn tiếng nói" của người Hà Nội cũng không còn như xưa nữa!


Ảnh: Internet

Nói chung, từ ngày đất nước thống nhất, văn hoá ẩm thực cũng đã thừa dịp giao lưu tự do, thoải mái! Chẳng thế mà từ nhiều năm nay, ở các "chợ vỉa hè" Hà Nội, thấy có đầy những hàng bán trứng vịt lộn, người ngồi ăn xì xụp, điều mà trước kia không bao giờ có ! Cũng như những hàng "cơm bụi", trước kia đâu có? Có chăng là những hàng " cơm bình dân " dành cho người lao động, thường cũng là những hàng quán kín đáo, chứ không khi nào lại lấn ra vỉa hè ! Có lẽ truyền thống "cơm bụi" đã được nhập trực tiếp từ nông thôn, rập theo khuôn mẫu các hàng quán ở "chợ quê" chăng ?

Có phải vì Thăng Long là chốn đế đô cũ, là đất "ngàn năm văn vật", mà người Hà Nội xưa có tập quán ăn uống "thanh lịch" và "kén chọn" không ? Điều này có thể là đúng ít ra về mặt "thanh lịch", còn ăn uống "kén chọn" lại là một chuyện khác nữa, và có những lý do khác. Kẻ Chợ do là nơi tập trung nhiều truyền thống ẩm thực từ nhiều nơi đem đến, cho nên người Hà Nội có cái thuận lợi là có được một sự chọn lựa rộng rãi. Những gì không ngon đều bị loại đi ngay, còn những gì mới mẻ, độc đáo cũng phải trải qua một cuộc thử nghiệm khe khắt rồi mới được sự đồng thuận của mọi người ! Tôi không tin rằng cái gu ẩm thực của người dân Kẻ Chợ trước kia đã chịu một ảnh hưởng đáng kể nào của các triều đại vua chúa đă từng ngự trị ở đây ! Có chăng, thì cái ảnh hưởng đó cũng không phải chỉ một chiều. Có những quà "tiến" vua, như nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà (nghe nói vải thiều của ta đã được đưa sang "cống" vương triều nhà Đường (618 - 906), từ thời Dương Quí Phi. Những thức ngon, vật lạ này thực ra cũng chỉ là những sản phẩm do nhân dân sản xuất ra, tiếng đồn lan truyền, rồi đến một lúc nào đó trở thành quà tiến vua. Song, chắc hẳn cái sự kén chọn của các tầng lớp quí tộc đã ảnh hưởng trở lại lên cái gu của quần chúng.

Ngược lại, cái gu dân dã của "thị dân", do không bị ràng buộc bởi những ước lệ gò bó, nên đến một trình độ phát triển nào đó, lại hấp dẫn, chinh phục được thị hiếu của các vua chúa : Ngay từ thời Trần, thỉnh thoảng đêm hôm vua vẫn cải trang đi chơi ra ngoài hoàng thành thăm những khu dân ở; thời vua Lê chúa Trịnh, các chúa đều xây cung điện ngay ở trong khu của dân. Không biết thời đó đã có các hàng quà chưa? Đặc biệt là đã có phở chưa? Các vua chúa cải trang đi tối, có dám dừng lại ăn quà ở ngoài phố không? Đó cũng là những điều bí ẩn, mà ngày nay ta chỉ có thể phỏng đoán, chứ không thể nào khẳng định được! Song, cứ nhìn vào kinh nghiệm lịch sử của các nước khác mà suy xét, thì điều đó chắc hẳn đã phải có. Ở Nhật, khi thành phố Edo trở thành kinh đô mới, khi tầng lớp phú thương, những "nhà giàu mới" rủng rỉnh tiền bạc, có đôi chút uy quyền, lại muốn "học làm sang", thì cái gu ở đây cũng xuất phát từ tầng lớp thị dân mới này, chứ không phải từ tầng lớp quí tộc nữa. Lúc đó tranh khắc gỗ "phù thế" được tôn vinh, làm lu mờ hẳn đi những bức tranh cổ điển, lỗi thời và buồn tẻ, của các vua chúa. Cũng như khu thanh lâu nổi tiếng của kinh thành Edo thời đó cũng đã hấp dẫn không biết bao nhiêu là các vương hầu, khanh tướng ! Cũng vậy, ở Trung Quốc, khi vua Càn Long nhà Thanh cải trang du hành một mình tới Giang Nam, thì nhà vua cũng đã có dịp quan sát, học hỏi được không biết bao nhiêu điều kỳ thú trong đời sống thường ngày của nhân dân.


Ảnh: Internet

Một thí dụ cụ thể khác, để thấy rằng cái gu ẩm thực của người Hà Nội luôn luôn được nuôi nấng, bổ sung bởi cái gu dân dã của các "vùng quê gốc" của mình. Chiếc bánh chưng mà người dân Hà Nội thường ăn, thường gói và luộc vào tối giao thừa, chỉ được cái thanh cảnh, còn thì không phải là thứ bánh chưng ngon nhất. Ở dưới Thái Hà ấp, nhà bà ngoại tôi, tôi đã từng được ăn một thứ bánh chưng gói theo truyền thống của làng Bông, Hưng Yên, bánh gói dẹp, to gấp đôi gấp ba, và ngon hơn nhiều, nhất là bánh chưng đường!

Mấy thí dụ nêu trên cốt chỉ để minh chứng rằng cái gu dân dã của quần chúng, dẫu là cư dân "tứ chiếng", đôi khi cũng có một ảnh hưởng quyết định.

Trở lại câu hỏi: Tại sao Hà Nội lại có nhiều hàng quà, và cái truyền thống hàng quà này đã có từ bao giờ?

Ai cũng biết, cái tên Hà Nội mới chỉ có từ thời vua Minh Mạng (1830). Trước kia, người ta thường gọi nơi này là Kẻ Chợ, tên chữ Thăng Long chỉ để dùng trong các văn tự hành chính, hoặc trong văn chương, từ thời nhà Lý trở đi (1010).

Cái tên Kẻ Chợ nôm na, quê mùa, thoạt nghe hơi lạ lạ, nhưng xét cho cùng, lại thấy là rất chính xác!

Hà Nội không biết từ bao đời nay vẫn là một nơi trao đổi buôn bán giữa thành thị và nông thôn, nơi hàng hoá, vật dụng, thức ăn, thức uống, hoa quả, và hàng quà (nhất là hàng quà !), đổ về từ mọi miền đất nước. Phần lớn các mặt hàng là để phục vụ cho người dân thành phố, song cũng có những mặt hàng dành cho khách từ nông thôn lên mua. Bởi thế cho nên, để bảo đảm cái chức năng ấy, Kẻ Chợ không chỉ gồm có các phường nghề, các chợ, mà còn có cả một hệ thống các hàng rong nữa.

Các phường sau này trở thành phố buôn bán, với các cửa hiệu chuyên về từng thứ mặt hàng một, như : Hàng Gạo, Hàng Khoai, Hàng Đậu, Hàng Bún, Hàng Đường, Hàng Bột, Hàng Cá, Hàng Mắm, Hàng Muối, Hàng Giò, Hàng Cau (Hàng Bè), Hàng Cân, Hàng Bồ, Hàng Bát, Hàng Khay, Hàng Than,...

Theo MonngonHanoi.com